Thời gian gần đây, liên tiếp nhiều vụ biến chứng khi tiêm phòng viêm gan B cho trẻ sơ sinh, chuyên gia giáo dục sớm tổng hợp các kiến thức về tiêm phòng cho trẻ sơ sinh gửi các mẹ tham khảo. Các mẹ tìm hiểu về kiến thức tiêm phòng cho trẻ nhé.

Sự cần thiết của việc tiêm vắc-xin viêm gan B sau sinh

Theo khuyến cáo của các chuyên gia giáo dục sớm, việc tiêm vắc-xin viêm gan B ngay trong vòng 24h đầu sau sinh là rất cần thiết, bởi nếu tiêm sớm hiệu quả bảo vệ càng cao. Việc tiêm sớm càng có ý nghĩa hơn khi tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B tại Việt Nam khá cao, 10-20% dân số.

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết, tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau khi sinh, thậm chí cả khi mẹ bị nhiễm virus, sẽ phòng được khoảng 85% nguy cơ nhiễm bệnh ở trẻ sơ sinh. Trong khi nếu mẹ có virus viêm gan B, thì 90% trẻ sinh ra sẽ bị lây. Nhiễm virus viêm gan B có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan sau đó. Khi đó, việc điều trị không chỉ tốn kém, lâu dài mà cũng rất nguy hiểm cho tính mạng trẻ.

Việc tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng 24h đầu sau sinh cũng là khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). WHO đánh giá vắc-xin viêm gan B là một trong những vắc xin an toàn, không có chống chỉ định, có chống chỉ định, trẻ sinh non, sinh thiếu cân… cũng có thể tiêm được.

tiêm phòng cho trẻ sơ sinh phần 1

Có nên tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ?

Sau khi xảy ra sự cố 3 trẻ ở Quảng Trị tử vong sau tiêm vắc xin có nhiều ý kiến khác nhau về việc tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ sau khi sinh, có ý kiến cho rằng để trẻ tròn 1 tháng tuổi, khi trẻ đã cứng cáp hơn, cha mẹ có thể tự đưa trẻ đi tiêm vắc xin viêm gan B mũi đầu tiên, có ý kiến cho rằng nên lùi thời gian tiêm mũi đầu tiên viêm gan B cho trẻ, không nhất thiết phải tiêm trong vòng 24h đầu sau sinh.

Trong khi có nhiều ý kiến khác nhau, nhiều người dân đặc biệt là các là sản phụ thấy rất hoang mang và băn khoăn rằng có nên cho con tiêm gan B ngay sau khi sinh?

Tiến sĩ Viên Quang Mai, Phó Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang (Bộ Y tế) cho biết, việc tiêm phòng viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ là việc làm cần thiết bởi đã được nghiên cứu và Tổ chức Y tế thế giới đã thực hiện thành công ở nhiều nước trên thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới cũng khuyến cáo Việt Nam phải thực hiện đúng quy trình trong vòng24 giờ sau khi sinh, bởi tạo cho trẻ con hiệu quả miễn dịch cao.

Quá trình nghiên cứu, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới, người ta mới đưa ra khuyến cáo là nên tiêm cho các cháu trong vòng 24 giờ sau khi sinh.

Trong khi người dân hết sức hoang mang lo lắng bởi không biết có nên tiếp tục tiêm vaccine viêm gan B cho trẻ sau khi sinh hay không, tiêm ở đâu thì an toàn, PGS.TS Phạm Nhật An, Phó Giám đốc BV Nhi Trung ương khuyến cáo, để giảm thiểu nguy cơ gặp tai biến sau tiêm chủng, các bậc phụ huynh trước khi đưa con đi tiêm chủng cần tìm hiểu kỹ để biết được lợi ích cũng như các tác dụng phụ và tai biến có thể xảy ra khi tiêm chủng. Thứ hai, cần biết lịch tiêm chủng để có thể cho trẻ đi tiêm chủng đúng thời hạn (tác dụng phòng bệnh đạt hiệu quả cao hơn) và các trường hợp trì hoãn hoặc không có chỉ định tiêm chủng. Thứ ba, khi cho trẻ đi tiêm chủng phải bảo đảm trẻ không có vấn đề gì về bệnh tật, sức khỏe (nếu có thì cần được tư vấn của bác sĩ trước khi tiêm phòng).

Cũng theo PGS.TS Phạm Nhật An, để phòng tai biến nguy hiểm có thể xảy ra sau tiêm chủng, tại các địa điểm tiêm chủng cần được trang bị các hộp chống sốc và trang thiết bị xử lý tai biến. Trẻ sau tiêm chủng cần được theo dõi sức khỏe để phát hiện sớm các tai biến và điều trị kịp thời.

Theo ước tính của WHO, tỷ lệ tai biến sau tiêm là 1-2 trong một triệu liều, rất thấp trong khi các loại vắc-xin khác tỷ lệ có thể lên tới 2-5 trên triệu liều. Tiêm vắc xin viêm gan B có thể gây phản ứng thông thường như đau tại chỗ (3-9%), sốt trên 37,7 độ C và sốc phản vệ nhưng chỉ khoảng 1/600.000 liều.

tiêm phòng cho trẻ sơ sinh phần 2

Nhiều rủi ro khi tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ trong 24 giờ sau sinh


GS.TS Nguyễn Đình Bảng, nguyên Viện trưởng Viện Kiểm định vắc xin và sinh phẩm y tế quốc gia cho rằng, việc tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong 24 giờ sau sinh tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về tai biến sau tiêm vắc xin viêm gan B khiến 3 trẻ sơ sinh tử vong? Diễn tiến dẫn đến tím tái, lịm đi sau tiêm ở cả 3 trẻ chỉ trong vòng 10 phút có bất thường không? Phải chăng chất lượng vắc xin có vấn đề?

Tôi cho rằng các ca bệnh này quá đặc biệt, là lần đầu tiên ở Việt Nam, chỉ trong một thời gian ngắn, tại một bệnh viện xảy ra 3 cháu bé tử vong sau ít phút tiêm vắc xin. Đây là sự cố quá đau lòng cho gia đình, cha mẹ các bé. Bộ trưởng Y tế nên thấy xót với nỗi đau của người mẹ. Người mẹ con ốm đau phải vào bệnh viện không qua khỏi đã xót, nay một đứa trẻ vừa sinh ra, khỏe mạnh chết càng xót xa.

Về nguyên nhân gây ra tai biến này, theo tôi, không nên “quy tội” ngay cho vắc xin mà cần phải chờ kết luận cuối cùng của quá trình điều tra. Tử vong sau tiêm chủng có rất nhiều nguyên nhân, chứ không riêng gì về chất lượng vắc xin.

Tôi nghĩ nếu chất lượng vắc xin có vấn đề sự việc trầm trọng hơn rất nhiều, hàng nghìn trẻ đã được tiêm lô vắc xin này. Vì thế, tôi nghĩ chưa thể nói nguyên nhân do vắc xin.

Thưa giáo sư, việc tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ trong vòng 24 giờ sau sinh nhằm mục đích gì? Giáo sư cho rằng tiêm vắc xin cho trẻ trong 24 giờ sau sinh có những cái rủi ro, xin giáo sư phân tích thêm về những rủi ro này?

Việc tiêm vắc xin viêm gan B trong vòng 24 giờ sau sinh nhằm kiểm soát được 100% trẻ khi sinh ra được tiêm vắc xin này. Thứ nữa, người ta nghĩ rằng tiêm như thế giải quyết được trường hợp người mẹ có mang kháng nguyên của vi rút viêm gan B, khi đó tiêm nhằm âm tính hóa trường hợp cháu bé sinh ra từ những người mẹ viêm gan B. Tuy nhiên, không phải tất cả cháu bé bị truyền kháng nguyên sang lại phát triển thành viêm gan. Hơn nữa phải đảm bảo đầy đủ các mũi tiêm thì mới đạt được mục đích này.

Nếu tiêm vắc xin cho trẻ sơ sinh mới 1 – 2 ngày tuổi, khả năng thích ứng của đứa trẻ với môi trường bên ngoài chưa có. Bởi trước đó, em bé nằm trong bụng người mẹ, được bảo vệ tốt bởi nhiệt độ, nước ối xung quanh. Khi vừa ra khỏi môi trường an toàn đó, trẻ tiếp xúc với môi trường bên ngoài (nếu nhà hộ sinh có nhiệt độ điều hòa thì tốt, nhưng ở những nơi không có điều kiện, vùng nông thôn, nhiệt độ lúc nắng nóng lên 39 – 40 độ), sự thích ứng của đứa trẻ khó khăn hơn, tiêm một kháng nguyên lạ vào cơ thể tăng nguy cơ phản ứng cho trẻ.

Tức là không nên tiêm vắc xin này trong vòng 24 giờ sau sinh, thưa giáo sư?

Quan điểm cá nhân của tôi, về mặt khoa học là với trẻ mới sinh 1 – 2 ngày chưa nên tiêm, Còn về chủ trương lớn, tôi không có ý kiến gì phản bác nhưng tôi vẫn không yên tâm với cách tổ chức tiêm sớm quá. Không phải bây giờ mới nói mà phát biểu cách đây cả chục năm nay.

Hiện tiêm trẻ sơ sinh chỉ có hai loại vắc xin phòng lao (BCG) và viêm gan B. Theo tôi, việc tiêm vắc xin lao ở tuổi sơ sinh là hoàn toàn đúng vì bệnh lao lây qua đường hô hấp, từ ô nhiễm không khí, môi trường, những người xung quanh trẻ. Nhưng vi rút viêm gan B không lây dễ dàng như vi khuẩn lao. Nên tôi chỉ ủng hộ tiêm vắc xin phòng lao cho trẻ nhỏ sơ sinh (nhưng không nhất thiết phải tiêm ngay một vài ngày sau sinh), còn với vắc xin viêm gan B, về quan điểm cá nhân, tôi thấy chưa thuyết phục về mặt khoa học.

Thưa ông, vậy giải pháp hợp lý nhất là gì?

Theo tôi nên xem người mẹ có bị viêm gan B không đã. Nếu mẹ không mang vi rút viêm gan B thì trên phương diện bảo vệ của trẻ em, tôi nghĩ rằng không nên tiêm sớm quá.

Thưa ông, trên thế giới có nước nào khuyến cáo giống Việt Nam, tiêm vắc xin ngừa viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh?

Theo tôi hiểu, Tổ chức y tế thế giới (WHO) không bắt buộc mà chỉ khuyến cáo là có thể tiêm được.

Cá nhân tôi thì cho rằng, việc tiêm quá sớm là không nên, nhất là ở những đứa trẻ được sinh ra từ những bà mẹ không bị viêm gan B, tiêm quá sớm sau sinh sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Vắc xin viêm gan B được bảo quản ở nhiệt độ từ 0 – 10 độ C. Một em bé vừa lọt lòng mẹ, em bé chưa thích ứng được với môi trường mà lại tiêm vắc xin là chất lạ vào cơ thể, nhất là vắc xin vừa lấy trong tủ lạnh ra, cơ thể rất dễ phản ứng lại. Vì thế, khi tiêm bất cứ vắc xin nào, nên lấy ra, để ngoài một chút cho nhiệt độ tăng lên gần tương đương với nhiệt độ cơ thể. Điều này không ảnh hưởng đến chất lượng vắc xin.

Xin cảm ơn giáo sư!

tiêm phòng cho trẻ sơ sinh phần 3

Những điều cần biết về việc tiêm phòng (chích ngừa) cho trẻ em

Cho đến nay, nhiều bà mẹ đã thấy rõ lợi ích to lớn của việc tiêm phòng cho trẻ, và đã tích cực đưa trẻ đi tiêm phòng. Tuy nhiên, vẫn còn 1 số bạn chưa hiểu rõ điều này. Chúng tôi đã gặp không ít bà mẹ đã tỏ ra ngần ngại khi được động viên đưa trẻ đi tiêm phòng. Một số bà mẹ thoái thác: “Cháu đi tiêm phòng mấy lần về đều bị phản ứng, phát sốt lên, cả nhà sợ lắm, thôi xin BS miễn cho cháu kỳ này”, hoặc có bà mẹ từ chối hẳn: “gia đình chúng tôi thật không dám cho cháu đi chích ngừa lao nữa, vì trước đây anh cháu đi chích về đã bị sưng hạch ở nách, phải chữa hàng tháng mới khỏi…” hoặc “cháu uống thuốc ngừa bại liệt song thì bị tiêu chảy ngay, nên lần này không dám cho cháu đi uống nữa”…

Xem xét các trường hợp trên, chúng tôi đã thấy rằng hầu hết các trẻ đó đều không có chống chỉ định trong tiêm phòng, nghĩa là vẫn có thể tiêm phòng trong an toàn. Có những ngần ngại hoặc những từ chối trên kia, chỉ là do bà mẹ chưa hiểu hết đầy đủ về việc tiêm phòng thôi.

Tác giả viết bài này với mục đích trình bày để các bà mẹ hiểu rõ 2 điều: những phản ứng không mong muốn của việc tiêm phòng và những chống chỉ định trong tiêm phòng; để các bà mẹ yên tâm, tích cực cho trẻ đi tiêm phòng và hiểu rõ hơn những trường hợp nào thì cần tránh tiêm phòng.

I. Những phản ứng không mong muốn của việc tiêm phòng:

Tiêm phòng là một biện pháp thực tế nhất, hiệu quả nhất để phòng bệnh: điều đó chắc mọi chúng ta đều rõ. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, trong 1 số trường hợp, có thể xảy ra phản ứng ở trẻ. Những phản ứng này, thầy thuốc không mong muốn có, gia đình lại càng không mong muốn có, cho nên được gọi là những phản ứng không mong muốn. Vậy những phản ứng đó ra sao? Có nguy hại cho trẻ không? Có làm mất tác dụng phòng bệnh của thuốc không? Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng vấn đề trên đây.

1. Phản ứng tại chỗ: Phản ứng này luôn xảy ra sau khi tiêm phòng. Một số trẻ cảm thấy đau nơi tiêm, cảm giác đau đó thường kéo dài từ 1 vài giờ đến 1 ngày, có thể làm các trẻ nhỏ quấy khóc. Một số trẻ khác lại thấy nổi cục lên ở nơi tiêm. Cục này thường nhỏ bằng hạt đậu, có khi viêm tấy đỏ, và có thể tồn tại tới 2-3 tuần mới tiêu tan. Cũng có trẻ lại bị mẩn ngứa xung quanh nơi tiêm, có thể kéo dài từ 3 tới 6 ngày. Những phản ứng này có thể xảy ra trong 5-10% số các trẻ tiêm phòng và thường là tự khỏi.

2. Phản ứng toàn thân: ở đây, sốt là chứng hay gặp nhất. Sau khi tiêm phòng 1 vài giờ hoặc 1 ngày, một số trẻ có thể bị sốt: sốt thường nhẹ, nhưng cũng đôi khi sốt cao (trên 39o), kèm theo tình trạng vật vã, quấy khóc, những trẻ lớn có thể kêu nhức đầu. Chứng sốt này hay thấy hơn cả trong các trường hợp tiêm phòng bệnh thương hàn, tiêm phòng bệnh ho gà. Cũng có trường hợp, sau khi tiêm phòng sau tới 5-12 ngày, trẻ mới bị sốt: thông thường chứng sốt muộân này xảy ra sau khi tiêm phòng bệnh sởi, đôi khi tiêm phòng bệnh quai bị. Tuy nhiên, tất cả các chứng sốt nói trên đều khỏi trong 1-2 ngày, và thường là tự khỏi. Chỉ có một số ít trường hợp sốt cao mới cần dùng đến thuốc hạ nhiệt (Paracetamol). Chúng tôi chưa hề gặp một tai biến nào nguy hiểm trong các trường hợp sốt sau tiêm phòng nói trên.

3. Phản ứng ngoài da:
Ban mề đay, ngứa toàn thân, đôi khi có thể xảy ra ở một số trẻ có tiền sử hay bị dị ứng, và có thể tồn tại từ 3 đến 6 ngày. Ngoài ra, tình trạng phát ban (ban đỏ, gần giống như ban sởi, nhưng nhẹ hơn) có thể xảy ra 2-10% trẻ tiêm phòng bệnh sởi hoặc bệnh rubêôn. Ban này thường xuất hiện trong khoảng từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 12 sau khi tiêm phòng, có thể kèm theo sốt nhẹ, và thường tự khỏi không cần dùng thuốc. Chỉ có một số trường hợp ban mề đay, nếu gây khó chịu nhiều cho trẻ, thì có thể dùng thêm 1 số thuốc chống dị ứng (Sirop Phenergan, Sirop Promethazine…).

4. Tai biến thần kinh: Đây mới là các tai biến đáng quan tâm hơn cả. Một số ít trẻ sau khi tiêm phòng bệnh ho gà, có thể bị co giật (làm kinh) đôi khi kèm theo sốt cao. Các cơn co giật này có thể xảy ra trong khoảng từ 30 phút đến 3 ngày sau khi tiêm phòng. Phần lớn các trẻ này, qua điều tra, đã thấy có tiền sử có những cơn làm kinh từ trước khi tiêm phòng ho gà. Tỷ lệ các trẻ làm kinh là khoảng 0,6%, nghĩa là trong 1.000 trẻ em tiêm phòng ho gà, thì có khoảng 6 trẻ có thể lên cơn co giật (hầu hết đã có tiền sử có những cơn làm kinh trước đó). Đại đa số trường hợp nói trên đều qua khỏi; chúng tôi chưa gặp 1 trường hợp nào nguy hiểm đến tính mạng trong số các trẻ nói trên. Tuy nhiên, cũng nên cân nhắc kỹ lưỡng việc tiêm phòng ho gà cho những trẻ đã có tiền sử có những cơn làm kinh trước đây, và cũng có thể miễn cho các trẻ này. Nếu xét thấy không thật sự cần thiết. Ở một số quốc gia, tình trạng này được coi là 1 “chống chỉ định” cho việc tiêm phòng ho gà.

Đặc biệt, một số ít trường hợp bệnh não có thể xảy ra, cũng ở những trẻ tiêm phòng ho gà mà đã có tiền sử có những cơn làm kinh trước đó. Những trẻ này thường nhỏ tuổi (dưới 6 tháng), sau khi tiêm có thể bị hôn mê, co giật, nôn ói… và có thể để lại di chứng sau này. Tuy nhiên, số trẻ bị bệnh não này rất hiếm: theo 1 công trình nghiên cứu quốc tế, thì chỉ chiếm 1 phần triệu số trẻ tiêm phòng nói trên. Đối với những trẻ này, dĩ nhiên nên cho miễn việc chích ngừa ho gà.

5. Hội chứng “rên la kéo dài”: Một số trẻ, thường ở lứa tuổi 3-6 tháng sau tiêm phòng khoảng 6-10 giờ, bổng phát ra những tiếng rên, có khi la hét to lên. Sự rên la này có thể xảy ra ở khoảng dưới 3% số trẻ tiêm phòng. Những tình trạng này có thể tự khỏi, nhưng nhiều khi thầy thuốc buộc phải dùng thuốc an thần để làm yên trẻ, và để gia đình an tâm. Tác giả đã có trường hợp phải dùng thuốc ngủ (Gerdenal) cho 1 trẻ la hét quá dữ. Tuy nhiên, tất cả các trường hợp nói trên – chỉ do ảnh hưởng của thuốc tới thần kinh của trẻ – đều qua khỏi không gây biến chứng gì.

6. Viêm hạch: Ở một số trẻ nhỏ, sau khi tiêm thuốc phòng lao (BCG) có thể thấy nổi hạch ở nách, bên phía mới tiêm phòng: trẻ đã có hiện tượng “viêm hạch nách do tiêm phòng lao”. Viêm hạch này có thể xuất hiện sau khi tiêm phòng khoảng 3 đến 5 tuần, và có 2 loại: viêm hạch đơn thuần và viêm hạch hóa mủ.
Viêm hạch đơn thuần, là hạch nổi sưng to lên thường to bằng hạt đậu phộng (hột lạc), sờ vào hơi cứng, nhưng không có mủ ở trong, và thường sưng kéo dài khoảng 1 tháng rồi tự khỏi. Theo 1 thống kê quốc tế, thì tình trạng viêm hạch đơn thuần này có thể xảy ra ở khoảng 6-12% số trẻ tiêm phòng lao, và thường không gây khó chịu gì cho trẻ.

Loại viêm hạch hóa mủ gây phiền phức hơn: hạch sưng tấy lên, to dần, có khi bằng 1 quả chanh, ấn vào thấy lũng nhũng vì mủ ở trong. Hạch này có thể tự vỡ, mủ chảy ra, rồi sau khi được rửa sạch hàng ngày, sẽ khỏi dần. Tuy nhiên, cũng có 1 số trường hợp phải can thiệp bằng phẫu thuật: mổ ra, nạo mủ, rồi băng lại. Dĩ nhiên, cũng phải rửa sạch hàng ngày. Loại viêm hạch hóa mủ này có thể xảy ra ở khoảng 0,1-4,3% trẻ tiêm phòng lao, theo 1 thống kê quốc tế.

Thông thường, ở những trẻ có viêm hạch như kể trên, tình trạng toàn thân vẫn tốt, trẻ không sốt, và vẫn có thể tăng cân đều đặn như mọi trẻ bình thường khác.

Chứng viêm hạch nói trên – tuy được coi là một phản ứng đặc biệt của việc tiêm phòng lao – nhưng cũng đôi khi, rất hiếm, có thể xảy ra sau tiêm phòng thuốc khác, như sau khi tiêm phòng bệnh sởi hoặc bệnh rubêôn.
Nói chung, các hiện tượng viêm hạch kể trên đều không gây nguy hiểm gì cho trẻ và đều qua khỏi sau 1 thời gian. Điều đáng ghi nhớ, là các hiện tượng đó không hề làm giảm tác dụng phòng bệnh của việc tiêm phòng.

II. Những chống chỉ định của tiêm phòng:

Mặc dù việc tiêm phòng đôi khi có thể gây ra những “phản ứng không mong muốn” như đã nói trên, nhưng vẫn cần được khuyến khích, vì ích lợi to lớn của nó: phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của trẻ.

Tuy nhiên, cũng có một trường hợp không nên tiêm phòng: đó là những trẻ đang ở trong tình trạng mà việc tiêm phòng có thể gây ra những phản ứng nguy hiểm. Những trường hợp này được coi là “chống chỉ định” của việc tiêm phòng.

Những trường hợp “chống chỉ định” đó gồm có:

1. Chống chỉ định tạm thời:

Trẻ đang sốt.
Trẻ đang mắc 1 bệnh nhiễm khuẩn cấp tính (viêm phổi, thương hàn, sởi v.v…).
Trẻ mới khỏi các bệnh nói trên, còn đang trong thời kỳ hồi sức.
Đang bị viêm da mủ (bệnh ngoài da, có mủ), hoặc bệnh chàm ngoài da (eczéma).

2. Chống chỉ định lâu dài

Trẻ đang mắc một bệnh mãn tính đang tiến triển như lao phổi tiến triển, tràn dịch (có nước) màng phổi…, nhất là đang có bệnh ở thận (như viêm thận mạn tính v.v…).

3. Một số chống chỉ định đặc biệt

Đối với tiêm phòng lao: nên tránh cho các trẻ sinh non còn quá yếu, quá thiếu cân; các trẻ đang bị bệnh cấp tính; các trẻ đang bị bệnh ngoài da lan rộng, đang tiến triển.
Đối với tiêm phòng sởi: nên tránh cho các trẻ đang bị bệnh bạch cầu (1 dạng ung thư máu), các trẻ đang bị suy dinh dưỡng rất trầm trọng, các trẻ đang phải chữa bệnh bằng các loại thuốc corticoid (như “đề xa”: dexamethasone, v.v…).
Đối với tiêm phòng thương hàn: nên tránh cho các trẻ đang bị bệnh ở thận, đang bị tiểu đường, hoặc đang trong 1 tình trạng có hiện tượng dị ứng trầm trọng (như đang trong thời kỳ có cơn suyễn phế quản, v.v…).

Tại sao lại có những trường hợp “chống chỉ định” như trên? Là vì – nói đơn giản – sau nhiều năm nghiên cứu, đã thấy việc tiêm phòng, trong các trường hợp đó có thể gây ra những tai biến đáng tiếc.

Để kết luận, có thể ghi nhớ như sau: việc tiêm phòng cho trẻ luôn luôn là cần thiết, vì những lợi ích to lớn trong việc bảo vệ sức khỏe của trẻ, những phản ứng tạm thời của 1 số trường hợp không gây nguy hại cho trẻ, và cũng không làm giảm tác dụng phòng bệnh của việc tiêm phòng. Chỉ duy có 1 số trường hợp cần tránh tiêm phòng – trong 1 thời gian – thì cần ghi nhớ. Do đó, trước khi cho trẻ tiêm phòng, bà mẹ nên báo cho nhân viên tiêm phòng biết về tình trạng sức khỏe trước đây và hiện nay của trẻ, để nhân viên y tế cân nhắc trước khi tiêm phòng và có thể hoãn lại ngày tiêm nếu cần thiết. Có thể tốt hơn nữa, nên hỏi ý kiến của thầy thuốc trước khi đưa trẻ đến nơi tiêm phòng.

BS. BÙI XUÂN VĨNH

tiêm phòng cho trẻ sơ sinh phần 4

12 loại vacxin cần tiêm cho trẻ

Vacxin giúp tăng cường sức đề kháng, phòng ngừa các bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ.
Dưới đây là 12 loại vacxin mà các bậc cha mẹ cần tiêm cho trẻ.

1. Vacxin ngừa viêm gan B

Bé sơ sinh cần được tiêm vacxin phòng ngừa viêm gan B trong vòng 24 giờ sau khi sinh; khoảng từ 1 – 2 tháng sau bạn nên tiêm cho bé một liều vacxin tương tự; khi bé được 6 – 18 tháng, bạn tiếp tục tiêm cho bé 1/3 so liều lượng đầu sau khi sinh. Vacxin giúp bé chống lại virus gây viêm gan B, loại virus mà bé có thể nhiễm từ mẹ (nếu người mẹ bị nhiễm virus này khi mang thai).

Tác dụng phụ thường gặp nhất khi trẻ tiêm vacxin viêm gan B là sốt nhẹ hoặc sưng tấy và đau ở chỗ tiêm.

2. Vacxin DTaP

Vacxin DTaP bảo vệ trẻ tránh bệnh bạch hầu ( một loại vi khuẩn khiến cổ họng của trẻ bị xám đen), uốn ván (bệnh gây co thắt cơ bắp, làm tổn thương đến cấu trúc xương của trẻ) và ho gà (căn bệnh phổ biến, dễ lây lan, nhưng lại rất khó kiểm soát).

Bạn nên tiêm vacxin DTaP cho trẻ khi trẻ được 2 tháng tuổi, 4 tháng tuổi, 6 tháng tuổi, 15 – 18 tháng tuổi và 4 – 6 tháng tuổi.

Để giảm số lần tiêm, bạn có thể tiêm kết hợp DTaP trong những lần tiêm chủng cho bé. Chẳng hạn, DTaP có thể tiêm cùng vacxin ngừa viêm gan B hay vacxin phòng bại liệt…

Bệnh sởi thường gây sốt cao và phát ban ở trẻ nhỏ. (Ảnh minh họa).

3. Vacxin MMR

Vacxin MMR giúp trẻ phòng ngừa bệnh sởi (gây sốt cao và phát ban ở trẻ nhỏ); quai bị (gây sưng mặt, sưng tuyến nước bọt, sưng ‘cậu nhỏ’ của bé trai); rubella (còn gọi là bệnh sởi Đức) (có thể gây ra dị tật bẩm sinh cho trẻ).

Bạn nên tiêm cho trẻ liều vacxin MMR đầu tiên khi trẻ 12 – 15 tháng tuổi và tiêm liều thứ hai khi trẻ 4 – 6 tuổi.

Đôi khi, vacxin MMR có thể được tiêm kết hợp cùng vacxin ngừa thủy đậu.

4. Vacxin ngăn ngừa thủy đậu

Bệnh thủy đậu là nỗi ám ảnh của khá nhiều người khi lớn. Bệnh do virus thủy đậu gây ra và có thể gây nhiễm trùng cũng như rất nhiều biến chứng khác nhau.

Tốt nhất, khi trẻ được 12 – 15 tháng tuổi bạn nên tiêm vacxin ngừa thủy đậu cho trẻ lần 1 và tiêm mũi thứ hai khi bé được 4 – 6 tuổi.

Đối với trẻ nhạy cảm, triệu chứng thường thấy khi tiêm vacxin là sốt hay phát ban nhẹ.

5. Vacxin Haemophilus cúm B (Hib)

Vacxin Haemophilus cúm B là loại vi khuẩn gây bệnh viêm màng não – một loại bệnh thường thấy và đặc biệt nguy hiểm cho trẻ dưới 5 tuổi.

Nên tiêm vacxin Hib khi trẻ được 2 tháng tuổi, 4 tháng tuổi, 6 tháng tuổi và 12 – 15 tháng tuổi.
Tác dụng phụ thường thấy ở trẻ khi tiêm vacxin Hib là sốt, tấy đỏ hoặc sưng ở vết tiêm.

6. Vacxin phòng tránh bại liệt (IPV)

Vacxin phòng ngừa bệnh bại liệt là một thành công đáng kể trong y học. Trẻ có thể tử vong nếu mắc virus gây bại liệt. Chính vì vậy, cha mẹ nên tiêm vacxin phòng ngừa bại liệt khi trẻ được 2 tháng tuổi, 4 tháng tuổi, 6 – 18 tháng tuổi và khi trẻ được 4 – 6 tuổi nên cho trẻ đi khám lại và tiêm mũi tiếp theo.

7. Phế cầu khuẩn liên hợp (PCV)

Loại vacxin này được biết đến với tên gọi PCV 13 ( tên thường gọi là Prevnar 13). Vacxin bảo vệ trẻ chống lại virus gây viêm màng não, viêm phổi, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng máu… những virus có thể dẫn đến tử vong cho trẻ nhỏ.

Với vacxin này, có tổng cộng 4 mũi tiêm khi trẻ 2 tháng tuổi, 4 tháng tuổi, 6 tháng tuổi và 12 – 15 tháng tuổi.

Tác dụng phụ sau khi tiêm thường gặp ở trẻ là buồn ngủ, tấy sưng ở chỗ tiêm, sốt nhẹ hoặc trẻ cau có, khó chịu.

Tiêm chủng phòng ngừa bệnh cúm cho trẻ nên được bắt đầu vào mùa thu. (Ảnh minh họa).

8. Vacxin ngăn ngừa bệnh cúm

Mỗi năm, tiêm chủng phòng ngừa bệnh cúm cho trẻ nên được bắt đầu vào mùa thu, khi trẻ được 6 tháng tuổi hoặc hơn.

Trẻ có thể bị đau nhức, sưng tấy ở chỗ tiêm, sốt nhẹ… khi tiêm vacxin phòng ngừa cúm.

Mẹo nhỏ: Nếu con bạn bị dị ứng trứng, bạn không nên tiêm vacxin phòng cúm cho bé vì bé có thể sẽ dị ứng với vacxin này.

9. Vacxin phòng ngừa virus Rota (RV)

Virus Rota là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy cấp, ói mửa ở trẻ em. Trước khi vacxin phòng ngừa virus này được nghiên cứu thành công năm 2006 thì mỗi năm có khoảng 55.000 trẻ em Mỹ phải nhập viện vì nhiễm virus này.

Vacxin ngừa virus Rota được sản xuất dưới dạng chất lỏng có thể sẽ khiến trẻ cảm thấy khó chịu, nôn mửa hoặc tiêu chảy nhẹ sau khi sử dụng.

10. Vacxin phòng ngừa viêm gan A

Ăn, uống không đảm bảo vệ sinh là nguyên nhân gây viêm gan A ở trẻ nhỏ. Trẻ có thể viêm gan, sốt, mệt mỏi, vàng da, chán ăn… khi nhiễm virut gây viêm gan A.

Thông thường, trẻ nên được tiêm mũi đầu ngừa viêm gan A khi 12 tháng tuổi và mũi thứ 2 khi trẻ được 23 tháng tuổi.

Tình trạng đau ở chỗ tiêm, đau đầu, chán ăn, mệt mỏi… là hiện tượng thường thấy sau khi trẻ tiêm vacxin.

11. Vacxin phòng ngừa viêm màng não (MCV4)

Vacxin bảo vệ trẻ khỏi vi khuẩn viêm màng não – bênh phổ biến có thể lây nhiễm ở các màng quanh não và tủy sống.

MCV4 có tác dụng tốt nhất khi trẻ được tiêm ở độ tuổi 11 hoặc 12 tuổi. Khi tiêm vacxin này, tác dụng phụ thường thấy là cảm giác đau nhức ở chỗ tiêm.

12. Human papillomavirus (HPV) – Vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung

Vacxin HPV được chia thành 3 lần tiêm cho trẻ trên 6 tháng. Vacxin có tác dụng tốt nhất cho các em gái ở độ tuổi từ 9 – 26 tuổi.

Loại vắc xin này bảo vệ trẻ khỏi 2 virus lây truyền qua đường tình dục , gây ung thư cổ tử cung.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 7.7/10 (3 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +3 (from 3 votes)

Các loại vắc xin cần tiêm cho trẻ và kiến thức tiêm phòng cho trẻ sơ sinh cần biết, 7.7 out of 10 based on 3 ratings